CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE TRƯỜNG THCS NINH GIA
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
DANH NGÔN HÔM NAY
Chuyên đề "Tích hợp Biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai"trong dạy học Địa lí 9
Chuyên đề:
“TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 9
Ở TRƯỜNG THCS NINH GIA”
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Trong nhiều cuộc hội thảo về khí hậu, các nhà khoa học khẳng định rằng: ngày nay con người đã làm biến đổi, đảo lộn hệ thống Trái Đất với qui mô ngày càng rộng lớn, với tốc độ chóng mặt. Biến đổi khí hậu đã trở thành một thách thức và nguy cơ lớn nhất đối với loài người trong thế kỉ 21. ViệtNamđược cảnh báo sẽ là một trong số những nước trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Hiện nay, ở ViệtNamđã xuất hiện nhiều những bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Các hiện tượng như: lượng mưa thất thường và luôn biến đổi, nhiệt độ tăng cao hơn, tình hình thời tiết khốc liệt hơn, tần suất và cường độ của những đợt bão lũ, triều cường tăng đột biến, các dịch bệnh xuất hiện và lan tràn.... trong những năm gần đây đều liên quan nhiều đến việc biến đổi khí hậu. Nhận thức sâu sắc vấn đề biến đổi khí hậu là hết sức cần thiết đối với tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi thành phần dân cư... Để có các hành động cụ thể góp phần vào việc ứng phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời để triển khai Dự án “Đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình giáo dục đào tạo giai đoạn 2011 – 2015”, Bộ Giáo Dục đã tổ chức biên soạn tài liệu “Giáo dục với ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai” đối với các môn học trong đó có môn Địa lí.
Với sứ mệnh giáo dục nói chung là nâng cao dân trí, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh góp phần đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho tương lai. Sau khi được tiếp thu dự án này, Chuyên môn nhà trường đã kịp thời triển khai đồng bộ cho các bộ môn có tích hợp nội dung biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai như: Vật lí, Sinh học, Hóa học, Công nghệ và Địa lí.
Tuy nhiên, để triển khai trọn vẹn hướng dẫn của chuyên môn nhà trường, để hướng dẫn học sinh biết phát hiện, tích hợp nội dung biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai vào trong bài học, từ đó các em có thái độ ứng xử tốt đối với tự nhiên, môi trường. Tôi cho rằng, giáo viên phải hiểu được nội dung của Dự án là gì? Vì sao phải giáo dục tích hợp Dự án này? Ý nghĩa của nó….. Thế nhưng, không phải giáo viên nào cũng làm được điều đó, nếu ta không nhận thức được sâu sắc rằng việc giáo dục, truyền thụ kiến thức của giáo viên đóng một vai trò to lớn và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến việc nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho học sinh.
Mặt khác trình độ nhận thức hay tiếp thu của học sinh không đều nhau: đối với học sinh khá giỏi thì việc tư duy, vận dụng kiến thức thực tế để tiếp nhận nội dung tích hợp biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai trong bài học dễ dàng hơn. Thậm chí, một số em còn biết vận dụng các kiến thức đã học để ứng phó với những tác động xấu của thiên tai trong cuộc sống. Ngược lại học sinh yếu kém, việc tiếp thu bài học của các em đã có phần khó khăn thì việc tích hợp những nội dung mới mẽ này lại càng khó khăn trừu tượng hơn..
Có thể nói thế hệ trẻ hôm nay sẽ là những người phải đương đầu trực tiếp với những tác động ghê gớm của Biến đổi khí hậu. Vì thế việc giáo dục cho học sinh nhận thức về những nguy cơ, thách thức của biến đổi khí hậu cũng như rèn kỹ năng phòng ngừa, giảm nhẹ và thích ứng với Biến đổi khí hậu là những việc làm cấp thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Là một giáo viên giảng dạy môn Địa lí, bản thân tôi luôn thể hiện mong muốn và ý thức trách nhiệm rằng: phải giáo dục biến đổi khí hậu cho học sinh, phải định hướng học sinh lấy kiến thức môn học để xây dựng mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy tôi đã chọn giải pháp: “Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai” trong dạy học Địa lí 9 ở trường THCS Ninh Gia.
PHẦN II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG
1.1. Cơ sở lí luận
a. Khái niệm
Chúng ta hiểu “Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".
“Biến đổi khí hậu là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu).
Giáo dục biến đổi khí hậu là một bộ phận của giáo dục phát triển bền vững, được tích hợp trong môn địa lí với mức độ tích hợp toàn phần, tích hợp bộ phận và liên hệ.
Trong công tác dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học. Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau. Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và đời sống ở đô thị, có rất nhiều vấn đề cần phải được đưa vào chương trình dạy học như: giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe, giáo dục hỹ năng thích ứng hay phòng, chống thiên ati.
b. Ý nghĩa, tác dụng của tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai.
Giáo dục là giải pháp quan trọng nhất trong quá trình thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ của học sinh đối với biến đổi khí hậu toàn cầu. Mục đích giáo dục về biến đổi khí hậu là giúp học sinh có được những hiểu biết và nhận thức về biến đổi khí hậu; có ý thức trách nhiệm cao và có các hành động cụ thể, sáng tạo để cải thiện môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong phạm vi chuyên đề này, tôi tập trung vào giáo dục biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai trong dạy học môn Địa lí lớp 9 ở trường THCS Ninh Gia. Cách thức tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học Địa lí 9 với mục tiêu giúp học sinh có điều kiện để phát huy được tính tích cực, sáng tạo và chủ động trong quá trình tiếp cận và tìm hiểu về biến đổi khí hậu.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong công tác ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay, giáo dục biến đổi khí hậu là nhiệm vụ quan trọng. Giáo dục biến đổi khí hậu là nội dung được tích hợp trong một số môn học ở trường phổ thông. Địa lí là môn học có “môi trường” phù hợp và thuận lợi để thực hiện giáo dục biến đổi khí hậu. Địa lí với hai mảng nội dung lớn, địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế xã hội, có nhiều khía cạnh liên quan tới nguyên nhân, hiện trạng hoặc hậu quả của biến đổi khí hậu. Đặc biệt nội dung chương trình môn địa lí lớp 9 có rất nhiều bài có thể tích hợp để giáo dục biến đổi khí hậu cho học sinh.
2.Thực trạng:
2.1. Về phía giáo viên:
- Trong quá trình dạy học, một số giáo viên có tâm lí sợ thiếu, sợ sơ sài, chưa sâu kiến thức nên còn quá ôm đồm trong việc tích hợp nhiều thông tin về khí hậu trong một nội dung bài học. Như vậy, sẽ mất nhiều thời gian, tạo ra sự quá tải đối với nội dung bài học, học sinh khó khăn trong việc tiếp nhận kiến thức.
- Dự án “Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai” mới đước Bộ Giáo Dục tổ chức biên soạn thành một cuốn riêng biệt (không lồng trong hệ thống kênh chữ của sách giáo khoa Địa lí 9 hiện hành). Trong quá trình cung cấp kiến thức bài học cho học sinh, một số giáo viên mới chỉ tập trung hướng dẫn học sinh khai thác nội dung kiến thức có trong sách giáo khoa mà quên đi một phần kiến thức quan trọng cần phải được tích hợp. Hoặc giáo viên chỉ đưa nội dung biến đổi khí hậu vào để giảng dạy mà quên đi việc giáo dục kỹ năng phòng, chống thiên tai cho học sinh.
- Việc tích hợp “giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai” với nội dung bài học ở một số giáo viên còn hời hợt, sơ sài, chưa thật thường xuyên liên tục. Bởi họ chưa nhận thức được, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và đời sống ở đô thị hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai cần phải được đưa vào chương trình dạy học để nhằm mục đích giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe cho thế hệ trẻ hôm nay. Bởi ngày mai, họ sẽ là những người phải đương đầu trực tiếp với những tác động ghê gớm của biến đổi khí hậu.
- Để hướng dẫn học sinh tích hợp nội dung này, một vài giáo viên tiến hành các hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu. Chưa tăng cường trang bị và sử dụng các thiết bị dạy học bộ môn, đặc biệt là các trang thiết bị dạy học hiện đại. Ít sử dụng các loại bản đồ, sơ đồ, mô hình, hình ảnh, video, clip... nên chưa rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sáng tạo.
- Thời lượng của một tiết dạy chỉ diễn ra trong 45 phút, trong khi đó nội dung kiến thức ở một số bài học rất nhiều. Để hoàn thành một tiết dạy theo đúng qui định theo chuẩn kiến thức kỹ năng đồng thời còn phải tích hợp giáo dục được nội dung biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai thì một số giáo viên chỉ chú trọng đến số học sinh có học lực khá tốt (các em này có kỹ năng trình bày nhanh hơn, rút ngắn được thời gian). Như vậy số học sinh yếu kém không có cơ hội để phản ánh hoặc chia sẽ những điều mình cảm nhận được.
- Một số giáo viên chưa mạnh dạn đưa nội dung tích hợp biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai vào việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh như: kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết. Do đó phần nào chưa giáo dục được kỹ năng ứng phó và phòng chống thiên thiên tai cho học sinh khi gặp phải.
2.2. Về phía học sinh:
- Dự án “Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai” mới đước Bộ Giáo Dục tổ chức biên soạn thành một cuốn riêng biệt (không lồng trong hệ thống kênh chữ của sách giáo khoa Địa lí 9 hiện hành), đồng thời được triển khai từ giai đoạn 2011 – 2015. Nghĩa là việc biên soạn và lồng ghép nội dung Biến đổi khí hậu vào các bài học trong chương trình hiện nay chưa đồng bộ. Trong khi đó, một số học sinh vẫn cho rằng nội dung bài học là nằm trong sách giáo khoa. Giáo viên có mở rộng thêm thì học sinh cũng chỉ coi là nội dung bên ngoài, chỉ để tham khảo, chưa tập trung chú ý tìm hiểu để liên hệ, cập nhật kiến thức.
- Trong quá trình học tập, một số học sinh vẫn chưa nhận thấy vai trò quan trọng của môn Địa lí mà hiện nay ta thường nói nhiều đến môi trường địa lí đối với cuộc sống, đối với sự bền vững của nền kinh tế. Đặc biệt là việc các em phải tìm hiểu thông tin, tích hợp kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, để từ đó có những kỹ năng ứng xử tốt với môi trường, khí hậu trong tương lai.
- Giáo dục tích hợp biến đổi khí hậu tức là giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mối liên hệ nhân quả địa lí.
Ví dụ: Trong bài 32, Ở phần nông nghiệp có tích hợp nội dung
+ Chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị và chất thải công nghiệp là nguyên nhân làm cho chất lượng môi trường đang bị suy giảm.
+ Chất lượng môi trường suy giảm là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh, gián tiếp gây ra biến đổi khí hậu ...
Thế nhưng chỉ có số ít học sinh khá giỏi biết giải thích, trả lời được, còn những học sinh trung bình thì gặp nhiều khó khăn hoặc cũng có thể không thực hiện được yêu cầu giáo viên đưa ra.
3. Giải pháp.
Nhiều lần trăn trở với mong muốn là làm thế nào để vừa truyền thụ được kiến thức bài học trong sách giáo khoa đồng thời vừa hướng dẫn học sinh biết liên hệ, mở rộng, đào sâu kiến thức, tích hợp nội dung biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai trong chương trình Địa lí 9, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:
3.1. Đối với giáo viên:
Thứ nhất: Các mục tiêu và nội dung Địa lí, giáo dục biến đổi khí hậu rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên trong khuôn khổ thời gian của bài học, với từng điều kiện dạy học cụ thể, giáo viên xây dựng nội dung giảng dạy bài học phải đảm bảo được sự vừa sức cho học sinh cũng như tạo ra sự hấp dẫn cho người học trong quá trình tiếp thu kiến thức, từ đó học sinh tham gia học tập một cách tích cực và chủ động, tạo điều kiện cho việc thực hiện được các mục tiêu của bài học.
Ví dụ: Khi dạy đến bài 2: Dân số và sự gia tăng dân số.
Với bài học này có tới 3 nội dung mà với thời lượng cho phép trên lớp chỉ 45 phút. Để làm nổi rõ trọng tâm và đảm bảo mục tiêu bài học giáo viên không thể hướng dẫn học sinh tích hợp cả 3 phần. Mà chỉ nên hướng dẫn học sinh tích hợp bằng cách liên hệ ở phần 2: Gia tăng dân số.
Câu hỏi: Gia tăng dân số nhanh, gây sức ép như thế nào tới tài nguyên mội trường? (Khai thác nhiều -> cạn kiệt tài nguyên. Chất thải sinh hoạt, phương tiện giao thông, các hoạt động kinh tế nhiều -> gây ô nhiễm mội trường)
Thứ hai: Các hoạt động dạy học cần hướng vào hoạt động học tập tích cực chủ động của học sinh dựa trên sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Giáo viên phải có sự chuẩn bị công phu và chu đáo về giáo án, nghiên cứu trước những diễn biến diễn ra của bài học, có sự chủ động trước mọi tình huống. Đặc biệt là những vấn đề liên quan tới giáo dục biến đổi khí hậu. Cần chú ý làm rõ một hoặc vài khía cạnh về khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân biến đổi khí hậu hoặc giải pháp phòng, chống thiên tai được tích hợp lại từ tài liệu của Bộ Giáo dục và những thông tin có sẵn trong bài học.
Ví dụ: Khi dạy đến bài 9: Sự phát triển và phân bố nông, lâm, thủy sản.
Để tích hợp nội dung phần 1: Tài nguyên rừng.
Giáo viên phải nghiên cứu, chuẩn bị công phu, chu đáo các nội dung kiến thức tích hợp, cụ thể:
? Quan sát hình ảnh trên và bằng hiểu biết, em có nhận già về tài nguyên rừng nước ta hiện nay? Nguyên nhân?
-> Đang bị cạn kiệt
-> Do cháy con người khai thác quá mức, do cháy rừng ....
? Sự suy giảm tài nguyên rừng ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế? Đời sống nhân dân?
-> Giảm sút các tài nguyên rừng, tuyệt chủng một số loại động vật quí hiếm.
-> Môi trường suy thoái: thiếu nước ngọt, nước sản xuất, sinh hoạt ...
Vậy chúng ta cần có thái độ, hành vi như thế nào đối với tài nguyên rừng?
-> Có ý thức bảo vệ tài nguyên rừng
-> Không đồng tình với những hành vi phá hoại tài nguyên rừng.
=> Giáo viên kết luận: Bảo vệ và trồng rừng là một trong những giải pháp để giảm nhẹ thiên tai.
Thứ ba: Đôi khi chỉ là sự liên hệ nhỏ qua nội dung bài học nhưng không được bỏ qua mà ta phải thực hiện thường xuyên liên tục, đặc biệt cần nhấn mạnh đến những nhận thức và hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trường. Thiết kế và tổ chức bài học cần được thực hiện đa dạng các phương pháp dạy học, đặc biệt tăng cường các phương pháp dạy học tích cực với hình thức tổ chức đa dạng, gắn với hoạt động thực tiễn. Biến đổi khí hậu là nội dung mang tính thực tiễn, nó sẽ thực sự sống động và hiệu quả khi được thực hiện gắn với thực tiễn cuộc sống.
Thứ 4: Tăng cường trang bị và sử dụng các thiết bị dạy học bộ môn, đặc biệt là các trang thiết bị dạy học hiện đại. Bài học về biến đổi khí hậu rất cần những hình ảnh, âm thanh sống động của thực tế môi trường xung quanh. Ví dụ: phim tài liệu, video clip, plat, tranh ảnh …. Phương tiện dạy học hiện đại cũng góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động học tập tích cực của học sinh. Tuy nhiên không phải nơi nào hay bất cứ lúc nào cũng có thể sử dụng các trang thiết bị dạy học hiện đại. Các loại bản đồ, sơ đồ, mô hình, hình ảnh cần được tăng cường khi nội dung giáo dục biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai có tính nhân quả. Qua đó, rèn luyện cho các em các kĩ năng sáng tạo và thấy được ý nghĩa của đồ dùng học tập.
Thứ năm: Kiến thức về biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai cũng có thể tổ chức được ở nhiều hình thức dạy học khác nhau như: cặp, nhóm, cá nhân. Giáo viên cần sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học mà vẫn phải đảm bảo được thời gian qui định. Thông qua đó, tất cả học sinh được khuyến khích tham gia các hoạt động học tập, thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề, đưa ra các quyết định và chia sẻ kết quả của các quyết định của cá nhân hoặc cùng tập thể, phản ánh những điều học sinh cảm nhận được.
Ví dụ: Để tích hợp phần 2 – Bài 12: Sự phát triển và phân bố công nghiệp:
B1: Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân:
? Những ngành công nghiệp trọng điểm nào gây ô nhiễm môi trường?
-> Chế biến, công ngiệp nặng, luyện kim ...
B1: Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm:
? Để phát triển công nghiệp bền vững đi đôi với việc bảo vệ môi trường, ngoài việc dựa trên các thế mạnh từ nguồn thủy năng, nguồn khoáng sản thì hiện nay ngành công nghiệp điện còn có thể dựa trên các nguồn năng lượng nào để phát triển? Vì sao?
-> Khai thác các nguồn năng lượng vô tận (sức gió, năng lượng mặt trời…
-> Vì nó góp phần hạn chế việc suy giảm tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Như vậy giáo viên đã gợi mở, tạo điều kiện để cho tất cả học sinh được tham gia vào quá trình tương tác tìm ra kiến thức cho bài học.
Thứ sáu: Giáo viên cần đưa nội dung tích hợp biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai vào việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh như: kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết. Do đó phần nào chưa giáo dục được kỹ năng ứng phó và phòng chống thiên thiên tai cho học sinh khi gặp phải.
3.2. Đối với học sinh:
Thứ nhất: Để học tốt bộ môn Địa lí nói chung, có kỹ năng thích ứng trong cuộc sống, ứng xử tốt với môi trường xung quanh. Bên cạnh việc học tập từ giáo viên, các thông tin kênh chữ trong sách giáo khoa. Học sinh phải thường xuyên cập nhật các thông tin về môi trường, khí hậu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Có như vậy mới xây dựng được cho các em kỹ năng tự học, tự nghiên cứu độc lập và tư duy sáng tạo.
Thứ hai: Học sinh cần nhận thấy vai trò quan trọng của môn Địa lí và việc tích hợp nó để mang lại nhận thức tốt cho thế hệ trẻ hiện tại cũng như sự bền vững đối với nền kinh tế trong tương lai. Đặc biệt là việc các em phải tìm hiểu thông tin, tích hợp kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, để từ đó có những kỹ năng ứng xử tốt với môi trường, khí hậu thì các em mới có thái độ học tập một cách đúng đắn.
Thứ ba: Các em nên chủ động trong việc nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức có liên quan đến nội dung tích hợp biến đổi khí hậu từ dễ đến khó, từ lí thuyết ra thực tiễn. Có như vậy trong bất cứ trường hợp nào của cuộc sống các em cũng có thể tự ứng phó, thích nghi.
4. Tổ chức thực hiện:
Quá trình dạy học Địa lí 9 cần được tích hợp sâu, rộng từ nội dung kênh chữ trong sách giáo khoa với giáo trình của dự án “Giáo dục tích hợp biến đổi khái hậu và phòng, chống thiên tai”. Chính vì tầm quan trọng của chương tình trong việc học tập địa lí nên đòi hỏi cả giáo viên và học sinh có những nhận thức đúng đắn về giáo dục tích hợp nội dung này. Theo đó tôi hướng dẫn học sinh tiến hành tích hợp nội dung kiến thức qua trình tự 5 bước sau:
*Bước 1:
Xác định các nội dung giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, giáo dục môi trường cụ thể cần tích hợp. Căn cứ vào mối liên hệ giữa kiến thức môn học và các nội dung giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, giáo dục môi trường, giáo viên lựa chọn địa chỉ và phương án tích hợp. Cụ thể, phải trả lời các câu hỏi: tích hợp nội dung nào là hợp lí? Liên kết các kiến thức về Giáo dục biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai và giáo dục bảo vệ môi trường như thế nào? Thời lượng là bao nhiêu?
Ví dụ: Căn cứ vào mối liên hệ kiến thức môn học, giáo viên lựa chọn:
+ Địa chỉ tích hợp là Bài 7: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp.
+ Nội dung tích hợp là phần 2: Tài nguyên khí hậu (Liên hệ những diễn biến thất thường của thời tiết như mưa bão, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, sương muối, giá rét đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp)
+ Giáo viên có thể liên kết kiến thức bằng cách đưa ra một số câu hỏi liên hệ.
Những diễn biến thất thường của thời tiết như mưa bão, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, sương muối, giá rét đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp như thế nào? Cho ví dụ minh họa ở thực tế địa phương?
Việc xác định địa chỉ tích hợp là một trong những bước cơ bản tạo nên sự thành công của hoạt động giảng dạy tích hợp biến đổi khí hậu. Xác định địa chỉ tích hợp đúng và chính xác không những tránh được tình trạng quá tải chương trình học mà còn giúp làm phong phú thêm nội dung của môn học. Việc xây dựng được địa chỉ đa dạng và bao quát sẽ giúp cho hoạt động giảng dạy lồng ghép được linh hoạt, mềm dẻo, thích ứng với nhiều điều kiện giáo dục cũng như tác động biến đổi khí hậu ở các vùng khác nhau. Nói cách khác, có thể xem việc xác định địa chỉ tích hợp như một quá trình hình thành nên các con đường, các giải pháp khác nhau cho hoạt động giáo dục biến đổi khí hậu, nhằm hướng đến một mục tiêu chung.
Bảng giới thiệu một số địa chỉ tích hợp “Giáo dục biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai” trong dạy học Địa lí 9.
|
STT |
Địa chỉ tích hợp |
Nội dung tích hợp |
Mức độ tích hợp |
|
1 |
Bài 2. Dân số và gia tăng dân số II. Gia tăng dân số |
Dân số tăng nhanh, gây sức ép tới tài nguyênvàMT. |
Liên hệ. |
|
2 |
Bài 7. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp 2. Tài nguyên khí hậu |
Những diễn biến thất thường của thời tiết như mưa bão, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, sương muối, rét hại... đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp. |
Liên hệ. |
|
3 |
Bài 9. Sự phát triển và phân bố lâm nghiệp, thủy sản 1. Tài nguyên rừng |
− Tài nguyên rừng ở nước ta đang bị cạn kiệt. − Suy giảm tài nguyên rừng sẽ ảnh hưởng tới MT và đời sống nhân dân. − Bảo vệ và trồng rừng là một trong những biện pháp góp phần giảm nhẹ BĐKH. |
Liên hệ. |
|
4 |
Bài 12. Sự phát triển và phân bố công nghiệp II. Các ngành công nghiệp trọng điểm |
− Ngành công nghiệp trọng điểm là ngành có thế mạnh lâu dài, mang lại hiệu quả kinh tế cao và có tác động đến sự phát triển các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, việc phát triển các ngành kinh tế trọng điểm cũng sẽ gây ô nhiễm MT, cạn kiệt tài nguyên, nhất là ngành công nghiệp khai thác. − Đối với ngành công nghiệp điện, việc khai thác nguồn năng lượng vô tận (sức gió, năng lượng Mặt Trời...), thay thế nguồn năng lượng hoá thạch (dầu mỏ, than...) là rất cần thiết, vì nó sẽ góp phần hạn chế việc suy giảm tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, sẽ góp phần giảm nhẹ BĐKH. |
Liên hệ. |
|
5 |
Bài 14. Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông I. Giao thông vận tải |
− Giao thông vận tải là ngành gây ô nhiễmMT.Cácphương tiện giao thông vận tải đã phát thải một lượng khí độc hại vào MT. − Việc tạo ra các phương tiện giao thông vận tải sử dụng ít nhiên liệu, sử dụng năng lượng Mặt Trời là rất cần thiết. − Sử dụng phương tiện giao thông vận tải công cộng, đi xe đạp... cũng là những cách bảo vệ MT. |
Liên hệ. |
|
6 |
Bài 17. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
− Thời tiết diễn biến thất thường, hiện tượng rét đậm, rét hại, sương muối diễn ra trong những năm gần đây ở Trung du và miền núi Bắc Bộ đã gây ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất. − Ngăn chặn việc phá rừng, khai thác tài nguyên khoáng sản một cách hợp lí là rất cần thiết. |
Liên hệ. |
|
7 |
Bài 20. Vùng đồng bằng sông Hồng |
Thời tiết diễn biến thất thường, hiện tượng rét đậm, rét hại, nắng nóng, khô hạn diễn ra trong những năm gần đây ở Đồng bằng sông Hồng đã gây ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất. |
Liên hệ. |
|
8 |
Bài 23. Vùng Bắc Trung Bộ II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
− Thiên tai thường xuyên xảy ra, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân. − Cần có biện pháp phòng chống và ứng phó với thiên tai. |
Liên hệ. |
|
9 |
Bài 25. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
− Là vùng thường bị hạn hán kéo dài; thiên tai gây thiệt hại lớn trong sản xuất và đời sống, đặc biệt trong mùa mưa bão. − Hiện tượng hoang mạc hoá có nguy cơ mở rộng ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ. − Bảo vệ và phát triển rừng có tầm quan trọng đặc biệt. |
Liên hệ. |
|
10 |
Bài 28. Vùng Tây Nguyên II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
− Mùa khô thiếu nước nghiêm trọng. Việc chặt phá rừng có ảnh hưởng xấu đến MT và đời sống nhân dân. − Bảo vệ MT tự nhiên, khai thác hợp lí tài nguyên, đặc biệt là thảm thực vật rừng có ý nghĩa không chỉ đối với Tây Nguyên mà còn có tầm quan trọng đối với các vùng phía nam của đất nước và các nước láng giềng. |
Liên hệ. |
|
11 |
Bài 31. Vùng ĐôngNam Bộ II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
Hiện tượng triều cường, nước dâng, sạt lở xảy ra ngày càng nhiều. |
Liên hệ. |
|
12 |
Bài 32. Vùng Đông Nam Bộ (tiếp theo) 1. Công nghiệp 2. Nông nghiệp |
− Công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh nhất cả nước. − Chất lượng MT đang bị suy giảm. − Các địa phương đang đầu tư để phát triển rừng đầu nguồn, giữ gìn rừng ngập mặn. |
Liên hệ. |
|
13 |
Bài 35. Vùng đồng bằng sông Cửu Long II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
− Địa hình thấp, là vùng được dự báo sẽ bị thu hẹp về diện tích khi nước biển dâng do BĐKH. − Cần có biện pháp để phòng tránh và ứng phó, thích nghi với BĐKH. |
Liên hệ. |
|
14 |
Bài 38. Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên, MT biển − đảo 2. Các đảo và quần đảo |
Trước tác động của BĐKH, nước biển dâng cao, nhiều đảo sẽ có nguy cơ bị chìm ngập. |
Liên hệ. |
|
15 |
Bài 41. Địa lí địa phương II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên |
Nhận xét, phân tích về những thay đổi khí hậu, thủy văn ở địa phương trong những năm gần đây. |
Liên hệ. |
Bên cạnh đó, cần phải làm rõ mức độ tích hợp cho từng nội dung biến đổi khí hậu đối với mỗi địa chỉ cụ thể trong chương trình học.
Có 3 mức độ tích hợp như sau:
+ Lồng ghép toàn phần: đối với các bài học có nội dung phù hợp hoàn toàn với một nội dung hay một chủ đề của biến đổi khí hậu Trang 17
+ Lồng ghép bộ phận: đối với các bài học có một phần nội dung phù hợp với một nội dung hay một chủ đề của biến đổi khí hậu
+ Liên hệ: đối với các bài học có nội dung liên quan đến các vấn đề của biến đổi khí hậu. Trong chương trình Địa lí lớp 9 Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai chủ yếu được tích hợp ở mức độ liên hệ.
Nhiều nghiên cứu và thực tiễn dạy học tích hợp biến đổi khí hậu đã cho thấy việc giảng dạy ở mức độ liên hệ trực tiếp hay gián tiếp có thể được tiến hành ở hầu hết các bài học của các môn học ở cấp bậc học khác nhau.
Ở phần này giáo viên cũng cần lư ý, khi xây dựng chủ đề hoặc bài giảng tích hợp nội dung biến đổi khí hậu. Dựa vào địa chỉ đã xác định, giáo viên tiến hành chi tiết hóa các nội dung Biến đổi khí hậu vào bài học hoặc đưa ra các nội dung riêng lẽ theo chủ đề của biến đổi khí hậu. Khi thực hiện bước này, giáo viên cần tuân thủ các nguyên tắc của giáo dục tích hợp để tránh việc lồng ghép khiêng cưỡng hoặc nội dung lồng ghép lặp lại, thời lượng phân bố không hợp lý.
*Bước 2:
Sau khi đã xác định được địa chỉ tích hợp giáo viên cần nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa để xây dựng mục tiêu dạy học, trong đó có các mục tiêu giáo dục Biến đổi khí hậu, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, mục tiêu bảo vệ mội trường.
Ví dụ:
- Khi xác đã định được địa chỉ tích hợp là Bài 9: Sự phát triển và phân bố lâm nghiệp, thủy sản. Giáo viên sẽ tiến hành xây dựng các mục tiêu bài học trong đó có mục tiêu tích hợp. Đối với bài này ta xây dựng tích hợp ở mục tiêu kiến thức với mức độ liên hệ ở phần tài nguyên rừng là phù hợp nhất.
- Mục tiêu kiến thức được xây dựng cụ thể như sau:
+ Học sinh trình bày được thực trạng và phân bố ngành lâm nghiệp của nước ta; vai trò của từng loại rừng.
+ Tích hợp liên hệ tài nguyên rừng đang bị cạn kiệt, suy giảm; tài nguyên rừng ảnh hưởng tới môi trường và đời sống nhân dân; bảo vệ và trồng rừng là một trong những biện pháp góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
+ Trình bày được sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản.
*Bước 3:
Lựa chọn các phương pháp dạy học và phương tiện phù hợp, trước hết quan tâm sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, các phương tiện dạy học có hiệu quả cao để tăng cường tính trực quan và hứng thú học tập của học sinh như sử dụng các mô hình, tranh ảnh, video clip ....
Ví dụ. Để tích hợp phần 1 trong bài 14: Giao thông vận tải.
- Để tăng cường tính trực quan và hứng thú học tập của học sinh như sử dụng hình ảnh trình chiếu lên bảng.
- Cho học sinh làm việc cá nhân mô tả những gì xảy ra trong bức ảnh, làm rõ các nội dung kiến thức.
+ Thủy triều đỏ trên biển do biến đổi khí hậu toàn cầu -> cá chết
+ Nguyên nhân do chất khải trong không khí đặc biệt là khí giao thông.
=>Giao thông vận tải là ngành gây ô nhiễm môi trường.
- Cho học sinh quan sát hình ảnh kết hợp hiểu biết đưa ra một số giải pháp để giáo dục về biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai.
+ Tạo ra các phương tiên giao thông vận tải thân thiện với môi trường (xe chạy bằng năng lượng Mặt Trời.
+ Sử dụng phương tiện công cộng, đi lại bằng xe đạp …cũng là một trong những giải pháp góp phần bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai
*Bước 4:
Tiến hành dạy học cụ thể. Đây là bước quan trọng nhằm giúp giáo viên đánh giá tính chính xác và mức độ phù hợp của nội dung, thời lượng tích hợp thông qua việc đánh giá khả năng tiếp thu của học sinh và hiệu quả của hoạt động giảng dạy.
*Bước 5:
Điểu chỉnh và cập nhật bài giảng. Dựa vào các nhận xét và đánh giá trong quá trình thử nghiệm, giáo viên tiến hành điều chỉnh nội dung bài giảng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Để đảm bảo tính chính xác của bài giảng, giáo viên cần phải có kế hoạch cập nhật và chỉnh sửa nội dung phù hợp với từng giai đoạn, từng kịch bản biến đổi khí hậu
III. KẾT LUẬN
Giáo dục Biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai cho học sinh là một việc làm cần thiết và có vai trò hết sức quan trọng. Thông qua bài dạy nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức cần thiết về biến đổi khí hậu; nhận thức của vấn đề của biến đổi khí hậu; những kĩ năng cần thiết để ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo đó, giúp cho học sinh thấy được những triển vọng, giá trị của những nhận thức và hành động phù hợp vì một tương lai phát triển bền vững.
Tuy nhiên, việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các bài này hầu hết được thể hiện ở mức độ liên hệ. Đây là vấn đề hết sức khó khăn cho giáo viên. Vì lúc này, giáo viên phải biết tìm kiếm và lựa chọn thông tin về biến đổi khí hậu một cách hợp lí để làm sao khi lồng ghép không gây quá tải cho bài học, không biến bài học địa lí thành bài giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu.
Qua hai năm vận dụng Dự án giáo dục biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai trong dạy học Địa lí 9 ở trường THCS Ninh Gia, tôi đã nghiên cứu, học hỏi và rút ra được một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tích hợp nội dung bài học. Những giải pháp của tôt chắc chắn còn nhiều hạn chế. Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các anh chị và các bạn đồng nghiệp để giải pháp có hiệu quả hơn.
Ninh gia, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Người viết
Hồ Thị Tuyến
BÀI DẠY THỂ NGHIỆM CHUYÊN ĐỀ
Tuần 14. Ngày soạn: 22 tháng 11 năm 2016
Ngày dạy: 24 tháng 11 năm 2016
Tiết 27. Bài 23
I. MỤC TIÊU
Sau bài học, HS đạt được:
1. Kiến thức
- Nhận biết được vị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ của vùng Bắc Trung Bộ và nêu ý nghĩa của chúng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội.
- Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng và những thuận lợi, khó khăn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
- Trình bày được đặc điểm dân cư, xã hội và những thuận lợi khó khăn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của vùng.
2. Kĩ năng
- Xác định trên bản đồ, lược đồ vị trí, giới hạn của vùng.
- Sử dụng bản đồ địa lí tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ hoặc Átlat Địa Lí ViệtNamđể phân tích và trình bày đặc điểm tự nhiên của vùng.
- Phân tích các bảng thống kê để hiểu và trình bày đặc điểm tự nhiên, dân cư, xã hội của vùng Bắc Trung Bộ.
3. Thái độ
- Liên hệ thiên tai thường xuyên xảy ra, gây ra nhiều khó khăn cho đời sống và sản xuất của nhân dân.
- Cần có biện pháp phòng chống và ứng phó với thiên tai.
- Ý thức bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai.
- Ý thức sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản tiết kiệm, hiệu quả hợp lí.
4. Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực chung: Năng lực giao tiếp; hợp tác; sử dụng ngôn ngữ …
- Năng lực chuyên biệt: Sử dụng bản đồ; tranh ảnh, bảng số liệu, tranh ảnh, thông tin SGK.
II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1. Chuẩn bị của giáo viên
- Bản đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ.
- Átlat Địa Lí ViệtNam.
- Phóng to hình 23.2, bảng 23.1;23.2 SGK.
- Tranh ảnh về tự nhiên, dân cư xã hội của vùng.
2. Chuẩn bị của học sinh
- Átlat Địa lí ViệtNam.
- Soạn bài.
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Ổn định lớp (1 phút )
2. Kiểm tra bài cũ (không)
3. Tiến trình bài học
Có một vùng kinh tế có vị trí rất quan trọng kết nối miền Bắc với miền Nam đất nước, có nhiều tài nguyên nhưng có nhiều thiên tai, một vùng có truyền thống đấu tranh bảo vệ chống giặc ngoại xâm kiên cường….đó chính là vùng kinh tế Bắc Trung Bộ. Vậy vùng có vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư xã hội như thế nào? Đó là nội dung bài học hôm nay.
Hoạt động của Gv và Hs |
Nội dung chính |
|
1. Hoạt động 1(12 phút): Tìm hiểu vị trí và giới hạn lãnh thổ * Phương pháp dạy học: sử dụng bản đồ, giảng giải, giải quyết vấn đề; khai thác Atlát Địa lí ViệtNam * Kĩ thuật dạy học: đặt câu hỏi; hướng dẫn học sinh khai thác Atlát Địa lí ViệtNam * Hình thức: Cả lớp Bước 1: * Hs quan sát hình 23.1 trang 82 SGK, Átlat Địa Lí ViệtNamtrang 27. H: Xác định trên bản đồ vị trí, giới hạn lãnh thổ vùng Bắc Trung Bộ? Cho biết: H: Phạm vi lãnh thổ của vùng? H: Hình dáng lãnh thổ có đặc điểm gì? Tỉnh nào hẹp ngang nhất? H: Nêu vị trí tiếp giáp của vùng? H: Xác định các tỉnh thành của vùng? H: Cho biết diện tích và dân số của vùng? -> năm 2009: 10,9 triệu người
Bước 2: H: Nêu ý nghĩa vị trí địa lí của vùng đối với sự phát triển kinh tế xã hội? Bước 3: * Gv nhấn mạnh: Vùng có vị trí là ngã tư đường đối với các nước trong khu vực, đối với các vùng trong nước, có nhiều thuận lợi và cơ hội để giao lưu phát triển kinh tế trong và ngoài nước.
2. Hoạt động 2 (14 phút): Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của vùng * Phương pháp dạy học: sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh; giảng giải, giải quyết vấn đề; khai thác Atlát Địa lí ViệtNam. * Kĩ thuật dạy học: đặt câu hỏi; hướng dẫn học sinh khai thác Atlát Địa lí ViệtNam; tranh ảnh; biểu đồ. * Hình thức: (Cả lớp). Bước 1: * Hs quan sát hình 23.1; 23.2 SGK/82,83. - Xác định dãy núi Hoành Sơn trên bản đồ. H: Nhận xét sự khác biệt về tài nguyên khoáng sản giữa phía bắc và phía nam dãy Hoành Sơn? ð Phía bắc nhiều tài nguyên khoáng sản hơn phía nam. H: So sánh tỉ lệ đất lâm nghiệp có rừng ở phía bắc và phía nam dãy Hoành Sơn? ð Phía bắc tỉ lệ đất lâm nghiệp có rừng cao hơn phía nam. H: Như vậy thiên nhiên có sự phân hóa như thế nào? * Gv chỉ và hỏi trên bản đồ: H: Em có nhận xét gì về địa hình của tất cả các tỉnh trong vùng từ tây sang đông? H: Có các dãy núi nào ăn ra sát biển? -> Tam Điệp, Hoành Sơn, Bạch Mã. H: Dựa vào các kiến thức đã học hãy nêu đặc điểm khí hậu của vùng? -> Nhiệt đới, mùa đông ngắn, đến muộn và kết thúc sớm. H: Hs xác định dãy núi Trường Sơn Bắc trên bản đồ và dựa vào kiến thức đã học cho biết dãy núi Trường Sơn Bắc có ảnh hưởng như thế nào đến khí hậu ở Bắc Trung Bộ? ð Mùa đông đón gió mùa đông bắc lạnh, khô, có mưa phùn. ð Mùa hạ đón gió mùa tây nam, đông nam nóng ẩm mưa nhiều, có gió Lào khô nóng. Bước 2: * Hs quan sát hình 23.1; 23.2 SGK/82,83; Átlat Địa lí ViệtNamtrang 25. H: Dựa vào những tài nguyên quan trọng nào để vùng phát triển kinh tế? H: Xác định các mỏ khoáng sản trên bản đồ? Là thế mạnh để phát triển những ngành kinh tế nào? -> Cần phải sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản tiết kiệm, hiệu quả hợp lí H: Chứng minh trên Átlat Địa lí Việt Nam trang 25 vùng giàu tiềm năng du lịch? Là thế mạnh để phát triển ngành kinh tế nào? H: Chứng minh vùng biển của vùng rất giàu tiềm năng? Là thế mạnh để phát triển những ngành kinh tế nào? -> Rộng lớn, có nhiều bãi tôm, bãi cá, bãi biển đẹp … phát triển 4 ngành kinh tế biển Bước 3: * Hs dựa vào kiến thức đã học ở lớp 8, sự hiểu biết của bản thân và tranh ảnh hãy nêu liên hệ thiên tai thường xuyên xảy ra, gây ra nhiều khó khăn cho đời sống và sản xuất của nhân dân?
* Gv nhấn mạnh ngoài ra còn có khó khăn khác như: cháy rừng, địa hình dốc, hiểm trở, nhiều dãy núi ăn ra sát biển khó khăn cho giao thông, tài nguyên rừng đang bị giảm sút. Hậu quả của chiến tranh còn để lại cho vùng. Cần có biện pháp phòng chống và ứng phó với thiên tai.
H: Để khắc phục những khó khăn do thiên nhiên gây ra nhân dân trong vùng đã và phải làm gì?
ð Trồng rừng, xây dựng hồ chứa nước, các công trình thủy lợi (hình 23.3 SGK/83), áp dụng rộng rãi hệ canh tác nông lâm kết hợp, ngăn chặn phá rừng, chủ động phòng chống bão lũ, ngập lụt. * Gv chiếu một số hình ảnh ngập lụt trong tháng 10 năm 2010 ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Qua đó giáo dục các em hướng về miền Trung ruột thịt bằng những việc làm thiết thực giảm bớt khó khăn cho nhân dân vùng lũ. 3. Hoạt động 3 (11phút): Tìm hiểu đặc điểm dân cư xã hội của vùng * Phương pháp dạy học: sử dụng bản đồ, giảng giải, giải quyết vấn đề; khai thác Atlát Địa lí ViệtNam, bảng số liệu * Kĩ thuật dạy học: đặt câu hỏi; hướng dẫn học sinh khai thác Atlát Địa lí ViệtNam; tranh ảnh; biểu đồ * Hình thức: Cá nhân/cặp Bước 1: * Hs nghiên cứu thông tin SGK/83 H: Cho biết vùng có khoảng bao nhiêu dân tộc sinh sống? Kể tên một số dân tộc sinh sống ở đây mà em biết? ð Kinh, Thái, Mường, Tày, Mông, Bru-Vân Kiều … * Hs quan sát bảng 23.1 SGK/84 hãy H: Cho biết những khác biệt trong cư trú và hoạt động kinh tế giữa phía Đông và phía Tây của Bắc Trung Bộ? Bước 2: * Hs nghiên cứu thông tin SGK/85 và qua môn Lịch sử làm rõ vấn đề sau: H: Với số dân đông (năm 2009: 10,9 triệu người) vùng có thuận lợi gì cho phát triển kinh tế xã hội? H: Ngoài ra người dân ở đây còn có truyền thống kinh nghiệm quý báu gì? * Gv chiếu một số hình ảnh về truyền thống chống giặc ngoại xâm (cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh, chiến dịch Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào. Là nơi sinh ra nhiều vị anh hùng dân tộc, các nhà văn hóa lớn điển hình là Chủ tịch Hồ Chí Minh …), phòng chống thiên tai của nhân dân trong vùng cho học sinh hiểu. Bước 3: * Hs phân tích bảng 23.2 SGK/84. H: Nhận xét về sự chênh lệch các chỉ tiêu của vùng so với cả nước? Qua đó nhận xét gì về trình độ phát triển kinh tế của vùng? ð Trình độ phát triển kinh tế xã hội còn chậm phát triển. Mức sống người dân chưa cao. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế. Bước 4: Gv tổng kết bài. Nhấn mạnh các kiến thức trọng tâm của bài. |
I. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ
1. Đặc điểm - Lãnh thổ hẹp ngang kéo dài từ dãy Tam Điệp đến dãy Bạch Mã. - Tiếp giáp: + Phía bắc: giáp vùng đồng bằng sông Hồng, TDMN Bắc Bộ. + Phía nam: giáp vùng duyên hải Nam Trung Bộ. + Phía đông: giáp biển Đông. + Phía tây: giáp nước Cộng hòa DCND Lào. 2. Ý nghĩa - Cầu nối giữa miền Bắc và miềnNam. - Cửa ngõ của các nước láng giềng ra biển Đông và ngược lại. - Cửa ngõ hành lang Đông- Tây của tiểu vùng sông Mê Công. II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1. Đặc điểm - Thiên nhiên có sự phân hóa giữa: + Phía bắc và phía nam Hoành Sơn.
+ Từ tây sang đông tỉnh nào cũng có: núi à gò đồià đồng bằngà biển.
2. Thuận lợi - Có một số tài nguyên quan trọng: + Rừng. + Khoáng sản. + Du lịch. + Biển.
3. Khó khăn - Thiên tai thường xảy ra: bão, lũ, hạn hán, gió Lào, cát bay.
Hồ Thị Tuyến @ 09:07 20/11/2016 Số lượt xem: 8654
 
NÀO CÙNG CƯỜI !!!FESTIVAL HOA ĐÀ LẠT 2012 |
Các ý kiến mới nhất